Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Sám Hối Khơi Nguồn Hy Vọng (1)

                                                                                                             Đaminh Đinh Viết Tiên OP

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay thánh. Đây là thời gian mà thánh Phaolô gọi là thời gian thuận tiện, ngày cứu độ (xc. 2Cr 6,2b). Mùa chay là thời gian thuận lợi để chúng ta rà xét lại con người của chúng ta để biết chúng ta đang như thế nào, có đi đúng con đường Chúa đã chỉ cho không, mà nếu chúng ta đã đi lệch khỏi con đường Chúa chỉ dạy thì phải ăn năn sám hối trở về con đường lành. Sám hối là trở về với Chúa.
I. PHÀI SÁM HỐI NHƯ THẾ NÀO ?
1.1. Tâm tình khiêm tốn
Sám hối là chủ đề những bài giảng đầu tiên của Chúa Giêsu trong sứ vụ công khai của Người: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15)Thực vậy, sám hối cũng là chủ đề những bài giảng đầu tiên của các thánh Tông Đồ, như sách Tông Đồ Công Vụ đã ghi lại: “Thánh Phêrô bảo họ:“Hãy hối cải, và mỗi người hãy chịu thanh tẩy nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha thứ tội lỗi .”(Cv 2:38).
Và như vậy, tâm tình sám hối phải là tâm tình căn bản và thường xuyên của mỗi chúng ta. Điều trước tiên chúng ta phải làm là hãy nhìn nhận thân phận yếu đuối của mình. Không bào chữa, không đòi hỏi, không tự mãn huênh hoang. Đồng thời chúng ta còn phải nhìn nhận chúng ta không có khả năng để tự cứu độ mình khỏi tình trạng yêu đối và tội lỗi mà phải cần đến quyền năng cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu.
Sự kiện để suy nghĩ
Vào buổi tối nọ, có người đàn bà phải chờ đợi chuyến bay mất nhiều thời giờ tại một phi trường Hoa Kỳ.
Bà rảo qua các sạp báo trong phi trường, mua một cuốn sách và một gói bánh, rồi tìm chỗ yên tĩnh ngồi đọc sách.
Tuy cắm cúi đọc sách, người đàn bà cũng nhận ra người đàn ông đang ngồi bên cạnh, ngoài cái đầu hói ra chẳng có gì gây sự chú ý. Tuy nhiên, có một điều khiến bà khó chịu, là chốc chốc người đàn ông lại đưa tay vào gói bánh và kéo ra một hai cái. Tuy khó chịu thật, nhưng bà cố tình làm như không biết để tránh người đàn ông khỏi ngượng. Bà cố gắng quên sự hiện diện của người đàn ông không mấy biết điều ấy.
Thỉnh thoảng, bà đưa tay vào gói bánh lấy ra một hai cái, và người đàn ông cũng làm theo. Cuối cùng, gói bánh chỉ còn vỏn vẹn một cái, bà chờ xem người đàn ông mất dạy này sẽ làm gì. Người đàn ông liền mỉm cười và lấy chiếc bánh cuối cùng bẻ ra làm hai và trao cho bà một nửa, nửa kia ông cho vào miệng. Người đàn bà nghĩ đây quả là người vô liêm sỉ, đã không biết xấu hổ thì chớ lại cũng chẳng nói một lời cảm ơn.
Bà thở ra nhẹ nhõm khi chuyến bay được loan báo. Bà thu dọn hành lý và đi về phía cổng lên máy bay, cũng chẳng buồn chào người đàn ông bên cạnh.
Sau khi thắt dây an toàn người đàn bà mới bắt đầu kiểm tra lại hành lý, cuốn sách bà mua vẫn còn nguyên vẹn trong xách tay, bên cạnh cuốn sách là gói bánh vẫn còn nguyên vẹn. Như vậy, cuốn sách bà đã đọc khi chờ máy bay là của người đàn ông, và gói bánh bà dùng cũng là của ông ta. Quá trễ để quay lại xin lỗi, bà thở ra tự nhận rằng : Kẻ ăn cắp bánh, người vô liêm sỉ chính là bà.
Sở dĩ con người không có thái độ khoan nhượng và cảm thông với người khác là vì họ không biết nhìn vào bản thân. Có lục soát lại hành lý, nghĩa là có nhìn lại chính mình, người đàn bà trong câu chuyện trên đây mới nhận ra lỗi lầm của mình, và thay đổi cái nhìn về người đàn ông.
Một trong những sứ điệp nền tảng của Kitô giáo chứa đựng trong lời kêu gọi của Chúa Giêsu:”Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Sám hối là chiều kích nền tảng của đời sống đức tin. Có nhìn nhận thân phận tội lỗi yếu hèn của mình, con người mới nhận được ơn cứu rỗi và tình thương của Chúa. Có biết mình hay vấp ngã, con người mới dễcảm thông với anh em. Như vậy, mến Chúa yêu người chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng của sám hối mà thôi.
Lòng sám hối càng sâu sắc, và tinh thần khiêm tốn càng cao độ, thì lòng mến đối với Thiên Chúa mới chân thành và tình yêu đối với tha nhân mới thiết thực, viên đá kiên cố nhất trong toà nhà là viên đá đặt thấp dưới chân nền. Chúa Giêsu đã lên án gắt gao thái độ của những người biệt phái. Họ có tất cả mọi nhân đức, nhưng chính vì thiếu lòng khiêm nhường sám hối mà toà nhà đạo đức của họ không có nền tảng. Tình yêu của họ đối với Chúa là giả tạo và họ không hề biết thế nào là cảm thông, tha thứ và yêu thương.
Người tín hữu Kitô được mời gọi nhìn lại bản thân hằng ngày, nhất là trong thánh lễ, để từ đó, mở rộng tâm hồn đón nhận tình yêu Chúa, và cảm thông tha thứ cho anh em.
Lạy Chúa, xin ban cho con đủ khiêm tốn để nhận ra lỗi lầm của con và chân thành sám hối.
Xin thêm đức tin cho con, để mỗi khi ý thức về sự yếu hèn của mình, con càng vững tin vào tình yêu bao la của Chúa và cảm thông tha thứ cho anh chị em mình.
1.2. Hãy tin tưởng vào tình thương của Chúa
Sám hối không chỉ có nghĩa là ý thức về tội lỗi và lo buồn vì đã phạm tội. Lo buồn vì đã phạm tội chỉ là một khía cạnh của sự sám hối mà thôi, và tất nhiên không thể là khía cạnh quan trọng nhất. Như chúng ta cũng đã biết, từ Sám hối trong tiếng Hy Lạp là Metanoia, mà chúng ta đã nghe rất quen, một từ được dùng để diễn đạt một tình trạng tâm hồn và tâm trí thay đổi hoàn toàn, xoay lòng trí khỏi tính ích kỷ để quy hướng về Thiên Chúa và yêu mến Người. Do vậy, công thức diễn tả sự sám hối tuyệt vời nhất chính là giới răn Chúa Giêsu đã nhắc đến, “Hãy yêu mến Thiên Chúa, Chúa ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức, và hết trí khôn ngươi và yêu thương người thân cận như chính mình.” (Lc 10:27).
Chúng ta có thể khóc lóc thảm thiết vì tội lỗi của mình và thưa với Thiên Chúa rằng: con hết sức lo buồn và van xin Người tha thứ. Nhưng nguyên việc ấy chưa đem lại cho chúng ta ơn sám hối. Chúng ta còn phải khao khát yêu mến Thiên Chúa. Vì rất có thể xưa nay chúng ta sám hối theo thói quen hoặc theo luật dậy và chúng ta đã làm được rất nhiều việc tốt, từ việc khổ chế đến việc phải vất vả vì Tin Mừng, nhưng lại thiếu lòng mến. Nên việc sám hối của chúng ta chưa diễn ra theo đúng ý Thiên Chúa.
Sự kiện để suy nghĩ
Mahatma Gandhi có kể về cuộc đời ông như sau: Hồi tôi 15 tuổi, tôi mắc một tật rất xấu, là tội ăn trộm. Khi đó tôi mắc nợ người bạn một số tiền khá lớn, thế rồi tôi đã về lấy của cha tôi một vòng đeo tay bằng vàng để bán lấy số tiền trả nợ.
Nhưng sau đó, tôi luôn luôn bị lương tâm cắn rứt, không cho tôi được giây phút bình an. Tôi không thể sống trong tình trạng này nữa. Tôi nhất quyết phải đến thú tội với ba tôi càng sớm càng tốt. Nhưng khi đến trước người, vì xấu hổ và sợ hãi nên tôi không thể thốt ra lời. Sau đó tôi liền nghĩ ra một cách thú tội bằng giấy mực. Tôi đã cầm tờ giấy đó đến trước mặt cha tôi, toàn thân tôi run rẩy và trao tờ giấy đó cho cha tôi. Ông đã đọc tờ thú lỗi của tôi, sau đó ông nhắm mắt lại trong giây lát và đã xé tờ giấy thành nhiều mảnh, rồi nói với tôi: ”Biết mình là điều rất tốt”, và đến ôm chầm lấy tôi trong vòng tay tràn đầy yêu thương, tha thứ của người. Từ giây phút đó tôi hiểu và thương mến cha tôi hơn.
Trên trời vui mừng vì một kẻ tội lỗi ăn năn hơn là chín mươi chín người công chính (xc. Lc 15). Thật là điên dại và nghịch lý. Ai có thể thấu hiểu nổi sự điên dại và nghịch lý này ? Chính sự điên dại này đã thúc ép Giáo Hội, vào đêm vọng Phục Sinh, đã long trọng công bố: tội Ađam là một tội cần thiết, là tội hồng phúc, bởi vì nó mà Đấng Cứu Độ là Chúa Giêsu Kitô đến với chúng ta. Có lẽ, Giáo Hội đã dựa vào tư tưỡng của thánh Phaolô Tông đồ trong thư gửi giáo đoàn Rôma. “Ở đâu tội lỗi ngập tràn, thì ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 6:1).
Chúng ta cũng nghe được trong từng trang Kinh Thánh: Sau một lần vấp ngã là một lần chỗi dậy và bắt đầu lại, và xem chừng thất bại càng nặng nề thì thành công lại càng nhiều hơn.
Một Giuse bị bán sang Ai Cập, để rồi trở thành tể tướng, và nhờ đó cứu thoát được cả gia đình. Một Đavít phạm tội ngoại tình, để rồi trở thành đại vương thánh thiện.
Sứ điệp của niềm hy vọng lại càng rõ nét hơn qua cách cư xử và giáo huấn của Chúa Giêsu.
Từ Lêvi thu thuế, Mađalêna cô gái điếm, đến Phêrô kẻ chối Thầy, không có người nào gặp gỡ Chúa Giêsu mà không ra về với một niềm hy vọng tràn trề, không một cuộc ra về nào mà không có những khởi đầu cho một cuộc đổi mới. Nhưng có ý nghĩa hơn cả đó là cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa Chúa Giêsu và người trộm lành. Chúa Giêsu đã long trọng tuyên bố:”Ngay hôm nay, ngươi sẽ được ở trên thiên đàng với Ta” (Lv 23,43). Một giây phút ngắn ngủi đủ làm lại cuộc đời để trở thành vị thánh. Không có gì là vĩnh viễn mất mát, cũng không bao giờ quá muộn để bắt đầu làm lại.
Tin vào Chúa Giêsu là luôn biết nhìn vào mọi biến cố, lúc may mắn thịnh vượng cũng như khi gặp rủi ro thất bại, đều là hồng ân Chúa ban. Tin vào Chúa Giêsu là chấp nhận để Ngài thực hiện những phép lạ đổi mới trong cuộc đời ta.
Lạy Chúa, trong tình thương bao la của Ngài, không một sự bội phản, vấp ngã nào mà không được tha thứ. Xin cho con đừng bao giờ thất vọng đối với bản thân, thất vọng đối với tha nhân, và đối với tình yêu của Chúa.

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Chúa đang gọi bạn

Tôi muốn chào đón các em học sinh mẫu giáo từ các lớp giáo lý, các thầy cô và phụ huynh của các em. Tôi muốn nói với các học sinh, và các em cần để ý lắng nghe bởi vì tôi sẽ có những câu hỏi để hỏi các em.

Pháp Luật và Lương Tâm

Nhiều lần khi tôi bật truyền hình lên để xem tin tức hoặc là lúc tôi đọc báo, một ý tưởng hiện ra, “Cái gì đang làm cho thế giới không ổn? Dường như là mỗi ngày một trở nên tệ hơn.” Có đủ thứ tội phạm – qúi vị biết là tôi đang nói về cái gì - đủ loại sa đọa, không phải chỉ ở Mỹ, nhưng mà là mọi nơi trên thế giới: giết người, chiến tranh, người ta giết hại nhau chỉ vì mầu da hay vì họ không thuộc về cùng một bộ lạc, hoặc họ không cùng một niềm tin tôn giáo.


Trong đất nước này chúng ta thấy luân lý đang đi xuống. Dường như người ta đã đè bẹp lương tâm của họ. Họ không muốn biết cái gì đúng cái gì sai; người ta chỉ muốn làm cái họ thích. Nếu lương tâm bắt đầu cắn rứt họ về một điều nào đó, họ muốn làm một luật khác thay đổi cái luật đó đi.

Ai cũng biết phá thai là tội lỗi, là một tội ác, nhưng Tối Cao Pháp Viện phán quyết cho phép phá thai, và làm việc phá thai là hợp pháp. Bởi đó “lương tâm của tôi không cắn rứt nữa. “Nó hợp pháp mà!” Ai cũng biết là hôn nhân đồng phái tính là xấu và vô luân, nhưng nếu tòa án nói là được, thì được. “Lương tâm của tôi không cần phải cắn rứt nữa.” Chúng ta đang sống trong thời đại buông thả và chính phú nói, “cái đó không phải là hình ảnh khiêu dâm, nó có thể được chiếu trên truyền hình,” thì nó thành hợp pháp, và được chấp nhận. Nhiều người cảm thấy là nếu chúng ta hợp pháp hóa tất cả mọi cái xấu trên thế gian này thì chúng sẽ được chấp nhận là đúng. “Nó không còn làm cho lương tâm tôi bị cắn cứt nữa.”

Lệch Lạc Lương Tâm

Thiên Chúa làm sáng tỏ và Đức Thánh Cha đã tuyên bố rằng bất cứ luật dân sự nào đi ngược lại với luật của Thiên Chúa thì không buộc phải tuân hành. Chỉ nguyên là hợp pháp không có nghĩa là nó có thể bỏ qua luật của Thiên Chúa. Chúng ta vẫn phải duy trì Thiên Luật cho dù dân luật có cho phép; nhưng như thế sẽ làm phiền lương tâm của một số người. Bởi thế họ tẩy chay tôn giáo. Nếu họ tẩy chay tôn giáo, thì sẽ không còn ai chung quanh để lên tiếng nói cho chúng ta biết cái gì đúng cái gì sai, cái gì tốt cái gì xấu. Loại bỏ giáo dục đạo đức tôn giáo ra khỏi trường học bởi vì nó đối nghịch với luật pháp. Lý do chúng ta có những lớp giáo lý tại giáo xứ Thánh Micae là để con em của chúng ta có được sự giáo dục tôn giáo, cho dù các em không là học sinh trường Công Giáo của nhà thờ.

Qúi vị nghe những cách nói ngày nay như, “cái đó thuộc về tôn giáo khuynh hữu qúa khích, do đó nó không đúng.” “Tôn giáo khuynh hữu qúa mức” chỉ đơn giản nỗ lực công bố lề luật của Thiên Chúa, làm sáng tỏ cái gì đúng luân lý cái gì trái luân lý. Nhưng người ta đè bẹp đi bởi vì nó cắn rứt lương tâm họ. Lương tâm của tôi nói là hành động này hoàn toàn đúng.” Thật là điều ngỡ ngàng đối với tôi khi thấy nhiều cặp trẻ đến để chuẩn bị hôn nhân đã chung sống với nhau hai, ba, bốn, năm năm. Tôi nói, “Các bạn biết điều đó là sai.” Họ trả lời, “Chúng con đâu có biết đó là sai.” Họ đã đè bẹp lương tâm của họ. Ngày nay cái gì hợp pháp thì cái đó cũng đúng luân lý. Các bạn và tôi biết nó không đúng là như thế.

Khi nghe bài đọc thứ nhất trong Thánh Lễ hôm nay từ sách Jonah, đó là một dụ ngôn hơn là một biến cố lịch sử; tôi suy nghĩ, “Tại sao Thiên Chúa không sai một người nào đó giống như Jonah đến nước Mỹ và nói với dân chúng “hãy cải sửa các hành vi của họ và làm cho ngay thẳng lại. Hãy loại bỏ tất cả các sự xấu xa trên thế giới và sửa đổi lại.” Thiên Chúa không làm như thế. Thiên Chúa đã sai người Con duy nhất của Ngài, Chúa Giêsu Kitô, đến sống ở trần gian, chịu đóng đinh, chết ở trần gian, và mở đường cứu rỗi cho chúng ta. Khi Ngài còn ở trần gian, ngài đã làm sáng tỏ, như trong bài Tin Mừng hôm nay, “Đây là con đường cứu rỗi.” Chúa Giêsu công bố Tin Mừng. “Đây là thời viên mãn, nước Thiên Chúa đến gần. Hãy ăn năn thống hối và tin vào Tin Mừng.” Đó là bản tin cho chúng ta. Nước Thiên Chúa đã đến gần, hãy ăn năn thống hối và sửa mình! Nếu các bạn không làm như thế thì sẽ không thuộc thành phần trong nước của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói với chúng ta, đúng, chúng ta có Đấng Cứu Thế Đấng đã đến trần gian để dạy chúng ta cái gì đúng cái gì sai, cái gì tốt cái gì xấu, dạy chúng ta cái gì cần cho ơn cứu rỗi của chúng ta.

Nhưng chúng ta thấy có những người Công Giáo không muốn tin như vậy. Có những nhóm bất đồng ở trong Giáo Hội mà lương tâm của họ đang ray rứt họ  về vài sự lạc giáo mà họ đang ấp ủ, hay vài vấn đề đòi họ sửa mình thì họ lại bất đồng với giáo hội; thay vì sửa mình thì họ lại nỗ lực tranh đấu để giáo hội sửa đổi giáo huấn của Giáo Hội.  Họ  cho là  “Giáo Hội không hiểu!” Nếu họ có thể làm cho Giáo Hội sửa đổi giáo huấn, thì lương tâm của họ không còn ray rứt họ nữa và họ sẽ cảm thấy thoải mái. Đó là đường lối sai lầm, và các bạn biết là như vậy. Tuy nhiên, vẫn có nhiều người, có thể là một số người đang ngồi ở đây có chủ trương là , “Thời thế đã thay đổi. Ngày nay phải theo luật mới, luân lý mới. Do đó bao lâu có những luật mới này thì bấy lâu lương tâm tôi sẽ không ray rứt nữa.” Họ muốn Giáo Hội thích nghi theo lối sống của họ thay vì họ phải thích nghi theo các giáo huấn của Giáo Hội.

Hoán Cải Sửa Mình

Chúng ta biết Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta và mỗi người chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi riêng để sống đời sống viên mãn và tràn đầy ơn cứu độ. Chúa Giêsu đã không sai một đoàn các tiên ti đi vào thế giới, ngài mời gọi bạn, bạn và bạn, mỗi người riêng biệt. Ngài mời gọi bạn sửa mình, ăn năn hối cải, đón nhận Nước Thiên Chúa trong đời sống của mình, giống như ngài đã làm trong bài Tin Mừng hôm nay với Phêrô, Giacôbê, Gioan và Andrê. Ngài đã kêu gọi họ, “Ngươi đến, ngươi đến và ta sẽ làm cho các người trở nên kẻ chài lưới người. Ta sẽ làm cho các ngươi trở nên cá khí cụ bình an của Thiên Chúa trong thế giới.” Trừ khi bạn, bạn và tôi làm như thế, bằng không thì chúng ta sẽ không hoán cải thế giới được, chúng ta sẽ không thể hoán cải xã hội được. Nếu chúng ta không thay đổi, xã hội sẽ không thay đổi. Chúng ta được kêu gọi sống đời sống viên mãn của Thiên Chúa. Chúng ta cần phải lắng nghe tiếng kêu gọi đó.

Thánh Phaolô nói rằng những cái thuộc về thế gian này chẳng là gì cả. Thế giới mà chúng ta đang thấy sẽ qua đi. Như vậy có nghĩa là gì nếu bạn có rất là nhiều tiền nhiều của, nhiều thú vui và bất cứ cái gì khác? Tất cả đều qua đi. Và bạn sẽ còn lại chỉ có một cái, ơn thánh của Chúa cho ơn cứu độ đời đời. Tôi muốn đề nghị với riêng từng người là hãy sửa đổi đời sống. Nếu các bạn đang sống theo lối sống thế gian, suy nghĩ những tư tưởng lạc giáo, chấp nhận những thực hành vô luân lý, ít nhất là trong trí khôn, thì hãy thay đổi, hoán cải, để nhờ đó các bạn có thể là dụng cụ cho ơn thánh của Chúa trong đời sống của chính mình, cho gia đình mình, cho những người liên hệ quen thân, và bạn có thể đem sự hoán cải vào thế giới.” Xin Thiên Chúa chúc lành cho các bạn.  

Msgr. Edward Peter Browne
L. M. Gioan Trần Khả chuyển dịch

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

Chiếc Gương và Cửa Sổ

Có một phú ông tên Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, nên ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.

Khi gặp Thiền sư: “Thưa ngài! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được”. Vị thiền sư mời ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi ông thấy được những gì qua ô cửa kính đó. “Dạ, con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi bằng phẳng, có khi gập gềnh, khúc khủyu nữa

Thiền sư chẳng nói gì và mời ông ta đứng trước một chiếc gương soi, hỏi ông thấy gì qua chiếc gương đó. “Con thấy chính mình…”
Thiền sư ôn tồn nói: “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp sơn phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.
Lời bạt: Bạn có là người hạnh phúc không? hay là người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Ở đâu đó, chúng ta đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ "dừng bước". Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương quan của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.
                                                                  Huệ Thiện  
                                                                   (sưu tầm & chuyển ngữ)

Học sống qua việc pha trà !

Cuộc sống như chuyện pha trà !
               Nấu sôi "cái tôi"
               Bốc hơi điều lo lắng         
          Pha loãng những muộn phiền 
              Thanh lọc những lỗi lầm và,
               Nếm hương vị của hạnh phúc.


Vì sao bút chì có tẩy?


(Hoathuytinh.com)
Có người hỏi: vì sao bút chì có tẩy? Chẳng phải câu trả lời đã quá rõ ràng rồi sao: để xóa đi những chữ viết sai, viết chưa đẹp hoặc để xóa hoàn toàn một đoạn văn nào đó!
Vậy có bao giờ bạn tự hỏi mình: phải chăng trong cuộc sống này, chúng ta cũng cần có một cục tẩy cho riêng mình? Để xóa đi những sai lầm của người khác và của chính bản thân ta! Có lúc chúng ta keo kiệt, không dùng đến cục tẩy đó khiến cho những trang giấy cuộc đời nhem nhuốc những dòng gạch và xóa!
 Bất cứ ai cũng có lúc gặp sai lầm, bất cứ ai cũng gây ra những lỗi lầm khắc sâu trong lòng người khác! Có người ghi nhớ để rồi mãi mãi khắc khoải vì vết thương đó! Có người để nó bị thời gian xóa đi, trống trơn phẳng lặng để viết lên những bài viết cuộc đời đặc sắc hơn, ý nghĩa hơn!

Người ta nói rằng cuộc đời là một trang giấy trắng, và chính chúng ta sẽ quyết định viết nó như thế nào! Khi một đứa trẻ mới vào lớp  một, cô giáo không cho chúng viết bằng bút bi mà viết bằng bút chì! Bởi vì sao bạn nhỉ? Vì bàn tay yếu ớt của các bé nhất đính sẽ có lúc viết những nét nguệch ngoặc, sai từ này, sai từ khác! Và khi đó, bé sẽ dùng tẩy để tẩy đi những chữ viết chưa đúng, chưa đẹp của mình! Chúng ta cũng vậy, không ai sinh ra là có thể viết lên những bài ca cuộc đời một cách  hoàn chỉnh! Có lúc chúng ta vì vội vã mà đi sai phương hướng dẫn đến những hậu quả khôn lường, có lúc vì chủ quan mà mắc sai lầm không thể sửa chữa! Làm thế nào đây? Ngồi trách móc bản thân và hứng chịu những lời trách móc của người khác? Như vậy có giải quyết được gì không?
Lúc ấy chúng ta cần biết tẩy đi những sai lầm mắc phải và làm lại từ đầu với những bước đi thận trọng hơn! Không ai có thể trưởng thành mà chưa một lầm vấp ngã hay mắc sai lầm!
Mỗi em bé trước khi biết đi cũng trải qua quá trình chập chững với không ít lần vấp ngã! Đừng tự trách bản thân mình quá nhiều bạn ạ! Cũng như đừng trách móc những người khác khiến họ cảm thấy mình kém cỏi mà mất hết niềm tin vào chính bản thân họ! Hãy biết chấp nhận sai lầm như một điều tự nhiên trong cuộc sống để đối mặt với sai lầm và thất bại một cách nhẹ nhàng hơn! Bạn biết đấy, cục tẩy sinh ra để xóa đi những chữ viết chưa được tròn trịa, chưa được chính xác thì chúng ta cũng hãy dùng cục tẩy của mình – sự bao dung và thứ tha để tẩy đi những sai lầm của mình và người khác mắc phải!
Đừng quá khắt khe với người khác, cũng đừng chỉ nhìn vào những sai lầm của họ mà đánh giá con người họ! Bất kỳ ai cũng có lúc mắc phải sai lầm quan trọng là họ biết mình sai để sửa, còn chúng ta đừng chỉ biết nhìn vào những sai lầm đó mà hãy nghĩ đến những gì họ đã cố gắng, đã nỗ lực để làm tốt công việc của mình!

Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI




+ GM. GB Bùi Tuần


1. Người già có cái nhìn của tuổi già. Người đau yếu có cái nhìn của thân phận đau yếu. 

Với hai cái nhìn đó, tôi xác tín cuộc đời cần phải có một ý nghĩa. Ý nghĩa đó, tôi đã nhận ra từ lâu, nhờ đức tin. Nhưng càng về già và càng đau yếu, tôi càng thấy rõ hơn.

Ý nghĩa cuộc đời là mỗi người hãy sống sao cho tốt để, khi chết rồi, được Chúa thưởng hạnh phúc trường sinh.

Như vậy câu hỏi đặt ra sẽ như sau: “Thế nào là sống tốt?”. Tôi hỏi mình tôi. Nhất là tôi cầu xin Chúa cho tôi biết điều đó. Với tất cả tấm lòng khát khao khiêm tốn, tôi cầu xin điều đó nhiều lần. Chúa trả lời tôi, bằng cách đưa trí khôn tôi nhớ lại Chúa phán dạy trong Phúc Âm thánh Luca.

- “Anh em hãy có lòng xót thương, như Cha anh em là Đấng hay thương xót.
- Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán.
- Anh em đừng lên án, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa lên án.
- Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ.
- Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,36-38).

Lời Chúa trên đây rất đơn giản. Qua lời Chúa dạy, tôi hiểu ý nghĩa cuộc đời là yêu thương. Yêu thương làm nên giá trị cuộc đời. Chúa sẽ căn cứ vào yêu thương của mỗi người, để thưởng công cho họ. Yêu thương, mà Chúa nói, gồm những việc sau đây:

2. Việc thứ nhất của yêu thương là biết xót thương (Lc 6,36).

“Anh em hãy có lòng xót thương, như Cha anh em là Đấng thương xót”. Qua Phúc Âm và qua kinh nghiệm bản thân, tôi nhận thấy xót thương của Chúa dành cho tôi là tình yêu nhưng không, vượt quá mọi tình yêu. Tôi là kẻ tội lỗi, thế mà Chúa đã đi tìm tôi. Như người chăn chiên đi tìm con chiên lạc với tất cả tình âu yếm (x. Lc 15,4-7). Như người cha đón người con hoang đàng với mọi cưng chiều đặc biệt (x. Lc 15,11-24).

Không chỉ có thế, Chúa luôn cứu độ tôi. Chúa còn gọi tôi và sai tôi đi. Chúa luôn ở với tôi mọi ngày. Trước tình yêu nhưng không Chúa dành cho tôi, tôi nhận ra bổn phận phải tạ ơn và biết ơn Chúa.

Việc tạ ơn và biết ơn tốt nhất tôi nên làm, là tôi hãy sống xót thương những kẻ khác, như Chúa đã xót thương tôi. Chúa hay nhắc nhủ tôi điều đó, bằng Phúc Âm và cũng bằng thời sự.

Cách đây mấy ngày, đài truyền hình An Giang giới thiệu một mô hình người xót thương. Người đó là một nông dân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Giáo lý của ông đơn giản chỉ là: Xót thương bất cứ ai cần được giúp đỡ. Biết ơn bất cứ ai giúp đỡ mình, dù việc rất nhỏ.

Cụ thể là từ lâu nay, ông làm nhà sửa nhà, cho những đối tượng nghèo. Có năm ông bỏ ra tới 100 triệu. Số nhà mới và nhà sửa mỗi năm không dưới 10 căn. Nghe và thấy gương sáng đó, tôi nhận ra là Chúa vẫn hoạt động mạnh mẽ nơi nhiều người, không phân biệt tôn giáo.

3. Việc thứ hai của yêu thương là đừng xét đoán và đừng lên án (Lc 6,37).

Ở đây, Chúa có ý nói về sự xét đoán và lên án những cá nhân, kẻ này người nọ. Chúa biết việc xét đoán và lên án một người là những việc rất khó. Hơn nữa, những việc đó còn gây nên nhiều hậu quả có thể nguy hiểm về phần rỗi cho chính kẻ chủ động xét đoán và lên án, vì họ sẽ dễ phạm đến công bình bác ái và khiêm tốn. Để cảnh báo, Chúa khuyên: “Đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán. Đừng lên án, để khỏi bị Thiên Chúa lên án”.

Khi áp dụng lời Chúa trên trên đây vào thực tế, tôi nghĩ thế này:

Không xét đoán và lên án, khi không có bổn phận phải xét đoán và lên án.
Không xét đoán và lên án, khi không biết đúng luật phải căn cứ vào mà xét đoán và lên án.
Không xét đoán và lên án, khi không có đủ dữ kiện đầy đủ và chính xác.
Không xét đoán và lên án, khi lòng mình không bình tĩnh, thiếu tinh thần công bình bác ái, bị áp lực bởi những thành kiến và dư luận vô trách nhiệm.

Tôi thấy việc xét đoán và lên án người khác là việc rất phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì thế, khi bất đắc dĩ phải xét đoán và lên án ai, chúng ta sẽ làm việc đó trong tinh thần kết hợp với trái tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường.

4. Việc thứ ba của yêu thương là biết tha thứ (Lc 6,37).

Biết tha thứ là một yêu cầu căn bản của bác ái Phúc Âm. Hãy tha thứ như Chúa tha thứ. Có tha thứ cho người khác thì mới được Chúa tha thứ cho mình. Tha thứ cho người khác là điều kiện để được Chúa thứ tha.

“Bấy giờ, ông Phêrô đến gần Chúa Giêsu mà hỏi rằng: Thưa Thầy, nếu anh em cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha thứ đến mấy lần? Có phải bảy lần không? Đức Giêsu đáp: Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18,21-22). Chúa có ý nói là phải luôn tha thứ. Tôi thấy tha thứ là việc không dễ dàng. Nhưng nhiều người luôn cố gắng. Với ơn Chúa, họ tha thứ thực sự cho tất cả những ai đã làm khổ họ bất cứ cách nào. Đón nhận sự tha thứ của họ hay không, đó là sự tự do của mỗi người.

Khi tha thứ, lòng chúng ta được nhẹ nhàng. Nhất là chúng ta được Chúa tha thứ cho ta. Đặc biệt là khi tha thứ cho người khác, chúng ta cũng xin mọi người tha thứ cho chúng ta.

5. Việc thứ bốn của yêu thương là cho đi (Lc 6,38).

Nếu ai hỏi tôi có gì để cho đi lúc này. Tôi không ngại trả lời rằng: Tôi cho đi chỉ những giọt nhỏ tình yêu và hy sinh, trong cầu nguyện, hiến dâng mình và chia sẻ tâm tư. Thân tôi như hạt lúa gieo vào lòng đất. Tất cả đều là hồng ân Thiên Chúa. Hồng ân lớn nhất là tôi tuy dầu tội lỗi, nhưng được Chúa tha thứ và yêu thương, được Chúa cho tham gia vào chương trình cứu chuộc của Chúa, được cùng với Chúa phục vụ những người đau khổ, nghèo hèn bé mọn. Tôi rất hạnh phúc vì ơn trọng đại đó. Chia sẻ hạnh phúc đó cũng là cho đi.

Tôi biết tôi cho đi chẳng được bao nhiêu. Khả năng phục vụ của tôi là rất giới hạn. Nhưng, tôi hy vọng Chúa là Cha giàu lòng thương xót sẽ dủ thương chấp nhận của lễ hèn mọn tôi dâng.

6. Nhìn xung quanh, tôi thấy vẫn có những người nêu gương sáng cho tôi về yêu thương, mà Chúa dạy. Qua những gương sáng đó, tôi nhận ra tiềm năng con người Việt Nam hôm nay là rất phong phú. Họ mở ra được nhiều mối liên hệ cao đẹp với người xung quanh. Họ mở ra được cái nhìn sâu sắc về cuộc sống đời sau. Họ mở ra được một sự hiệp thông gắn bó với Thiên Chúa là Cha trên trời.

Những người như thế ví như những vì sao bé nhỏ, chiếu toả tình yêu với chiều kích liêng thiêng của sự cứu độ. Họ góp phần không nhỏ vào việc phát triển Đất Nước và Hội Thánh Việt Nam. Xin ngợi khen và cảm tạ Chúa đến muôn đời.

Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2011

TÌM HIỂU NGÀY ‘SINH NHẬT’ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

Lm. Anphong Trần Ðức Phương
Tại Hoa Kỳ, cứ sau lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) nhiều gia đình và nhà hàng bắt đầu trang hoàng trong nhà, cũng như trước cửa nhà để chuẩn bị vào mùa Lễ Lớn: Đại Lễ Giáng Sinh và Năm Mới sắp tới. Một cách đơn giản chúng ta thường hiểu Lễ Giáng Sinh là ngày lễ mừng ‘Sinh Nhật’ (Birthday) của Chúa Giêsu (Thí dụ, ngày 25 tháng 12, 2008 là ngày sinh nhật thứ 2008 của Chúa Giêsu). Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử về ngày lễ nầy, chúng ta thấy có những điều không hẳn đơn giản như vậy.

Một chút lịch sử ơn cứu độ.

Theo truyền thống Do Thái mà nền tảng là Thánh Kinh Cựu Ứơc, sau khi tổ tông (Thủy tổ) loài người là ông Adong và bà Eva sa ngã phạm tội, liền bị mất ân nghĩa với Thiên Chúa (Sách Sáng Thế 3:23). Tuy nhiên vì "Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Chúa" (ST 1:27), Ngài không để con người phải án phạt đời đời, nên Ngài đã hứa ban một Đấng Cứu Thế đến để cứu chuộc tội lỗi nhân loại (ST 3:15) và danh hiệu của
Ngài là ‘Đấng Cứu Tinh’ (Messiah). Nguyên ngữ trong tiếng Do Thái ‘Messiah’ có nghĩa là ‘Đấng được xức dầu’. Theo thói tục của người Do Thái thì ai được chọn làm ‘Vua’ làm ‘Tiên Tri’ (Prophet) làm thầy ‘Tư Tế’ đều được phong chức chính thức bằng việc xức dầu (thánh) (dầu ô liu) trên đầu. Danh từ ‘Messiah’ chuyển dịch qua tiếng Hy Lạp là ‘Christos’. Danh từ ‘Christos’ chuyển sang tiếng Latinh là ‘Christus’ và sang tiếng Pháp, tiếng Anh là ‘Christ’, Tiếng Việt Nam (theo các bản dịch Thánh Kinh của Công Giáo và các sách đạo đức) chuyển dịch là ‘Kitô’ (hay Kytô).

Theo Do Thái Gíáo thì Đấng ‘Messiah’ (Kitô) chưa tới cứu độ Dân Ngài. Hàng năm người Do Thái vẫn đến bên bức ‘Tường Khóc’ để cầu nguyện xin ‘Đấng Cứu Độ’ đến.
Theo Kitô Giáo thì ‘Đấng Kitô’ đã Giáng Sinh, và khi Ngài sinh ra thì được đặt tên là ‘Giêsu’ (Jesus) theo như lời Sứ thần truyền tin cho Đức Maria (Luca 1:31 và 2:21). Danh từ ‘Giêsu’ theo nguyên ngữ Do Thái có nghĩa là ‘Đấng Cứu Độ’ (Savior). Vì Chúa ‘Giêsu’ chính là ‘Đấng Kitô’ Thiên Chúa đã hứa, nên tên Ngài thường được gọi là ‘Giêsu Kitô’. Thánh Phaolô trong các thơ gửi các giáo đoàn thường dùng danh hiệu ‘Giêsu Kitô’. Chúng ta cũng nên lưu ý là vào thời xưa một người chỉ có ‘tên gọi’, chưa có ‘tên họ’ và ‘tên đệm’; nhưng có những ‘tên hiệu’ ghép vào ‘tên gọi’ trong một số trường hợp, nhất là trường hợp của các vua chúa hay các ‘Danh Nhân’.

Theo Kinh Thánh, Chúa Giêsu cũng được gọi là ‘Emmanuel’ hay ‘Immanuel’ ( Luca 1:23). Danh từ ‘Emmanuel’ trong tiếng Do Thái có nghĩa là ‘Thiên Chúa ở cùng chúng ta’. Danh hiệu ‘Emmanuel’đã được Tiên Tri Isaia (740-687 B.C.) nói đến ( Isaia 7:14).

Chúa Giêsu sinh ra năm nào?

Năm Thiên Chúa Giáng Sinh làm người được kể là năm thứ nhất theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay; như thế sinh nhật của Ngài đã chia đôi lịch sử nhân loại.

Theo lịch sử Thánh Kinh thì từ ‘tạo thiên lập địa’ đến năm Chúa Giáng Sinh được gọi là ‘Thời Kỳ Cựu Ước’ và từ năm Chúa Giáng Sinh trở về sau được gọi là ‘Thời Kỳ Tân Ước’. Theo lịch chung chúng ta dùng hiện nay thì trước thời Chúa Giáng Sinh gọi là trước ‘Công Nguyên’ (thường ký hiệu là B.C. ‘Before the birth of Christ’) và từ năm Chúa Giáng Sinh cho đến ngày ‘tận thế’ thì gọi là sau ‘Công Nguyên’ (thường ký hiệu là A.D. ‘Anno Domini’ ‘Năm của Thiên Chúa’).

Như vậy, thí dụ ngày 25 tháng 12 năm 2008 là ngày chúng ta mừng Sinh Nhật thứ 2008 của Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên vì các nhà làm lịch lúc đầu tính lầm nên năm Chúa Giêsu giáng sinh bị lệch đi mất 6 hoặc 7 năm. Nếu tính đúng thì năm 2008 sẽ phải là năm 2014 (hoặc 2015). Nói một cách khác đơn giản hơn thì vào năm 2008 này tuổi của Chúa Giêsu đã là 2014 (hoặc 2015).

Lý do của việc ‘tính lầm’ nầy là vì vào thời xưa người ta chưa có lịch chung như ngày nay, nên thường tính năm theo triều đại của các vua (như ‘Đời Vua Hùng Vương thứ 18’... chẳng hạn) hoặc theo một biến cố lịch sử nào đó ( như năm Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây ‘Vạn Lý Trường Thành’ chẳng hạn). Các Thánh Sử khi viết sách ‘Phúc Âm’ (hay ‘Tin Mừng’) cũng dùng niên hiệu các vua cùng với những biến cố lịch sử nào đó. Thí dụ: Thánh Matthêu viết: ‘Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđêa, thời vua Hêrôđê trị vì... ( Matthêu 2:1... ). Thánh Luca viết: ‘ Vào thời Hoàng Đế Augustô ra ‘chiếu chỉ kiểm tra dân số’... Khi Giuse và Maria đang ở Bêlem, thì Maria đến ngày sinh con... ( Luca 2:1... )

Khi Chúa Giáng Sinh thì nước "Do Thái" (vùng Palestina) đang dưới quyền ‘đô hộ’ của Đế Quốc Rôma. Lúc đó Đế Quốc Rôma đang cai trị nhiều vùng rộng lớn, bao gồm cả vùng Trung Đông. Hoàng Đế Rôma bấy giờ là Augustô. Còn vua Hêrôđê chỉ là một ‘tiểu vương’ thay mặt hoàng đế Rôma cai trị miền Giuđêa (phiá nam Palestina) và nhà vua không phải là người Do Thái. Vùng đất Palestina (nơi người Do Thái sinh sống thời đó) gồm ba miền: Galilê (Bắc), Samaria (Trung) và Giuđêa (Nam). Thành Bêlem nơi Chúa Giáng Sinh và thủ đô Giêrusalem nằm phiá nam, thuộc Giuđêa. Vua Hêrôđê này thường được gọi là vua ‘ Hêrôđê Cả’ (Herod the Great) để phân biệt với Hêrôđê ‘Antipa’ là con. Vua ‘ Hêrôđê Cả’ là người đã tiếp kiến các nhà đạo sĩ phương đông đến triều yết để hỏi đường đến chiêm bái Vị Vua Mới Sinh (Matthêu 2:1...). Cũng nhà vua nầy đã ra lệnh ‘giết các hài nhi mới sinh từ hai tuổi trở xuống...’ (Matthêu 2:16...). Vì thế Thánh Giuse phải đưa ‘Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập (Matthêu 2, 13...). Theo các sử gia thì nhà vua này chết vào năm 4 trước Công Nguyên, tức là sau khi Chúa Giêsu sinh ra chừng 3 hay 4 năm (vì Chúa Giêsu sinh ra vào năm 6 hay 7 trước Công Nguyên, do nhà làm lịch tính lầm năm, như đã nói trên). Khi Thánh Giuse nghe tin nhà vua đã chết, liền đem Đức Maria và Chúa Hài Nhi trở lại quê hương (Matthêu 2,19...) (Như vậy là Thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Hài Nhi Giêsu cũng đã phải trải qua một thời ‘di cư’ sống nơi ‘đất khách, quê người’ như nhiều người Việt Nam chúng ta hiện nay!).

Hêrôđê Antipa (Con của Hêrôđê Cả) là người đã ra lệnh xử trảm Thánh Gioan Tiền Hô (PÂ Matthêu 14:4). Nhà vua này cũng là người đã ‘’Rất mừng rỡ khi gặp mặt Chúa Giêsu...’’ (PÂ Luca 23:6...) khi Người bị bắt và đang bị xử án.

Nếu tính theo triều đại Hoàng Đế Rôma Augustô, thì Chúa Giêsu sinh ra vào ‘đời Hoàng Đế Augustô thứ 20’.

Thực ra người chủ trương lấy năm Chúa Giêsu sinh ra là năm I để bắt đầu Công Nguyên là ông Diônisiô (khoảng năm 556) đã tính lầm năm sinh của Chúa, vì ông căn cứ vào năm xây dựng thành Rôma và tính là Chúa giáng sinh vào cuối năm 753 sang năm 754 (sau khi thành lập thành Rôma) , rồi ông lấy năm 754 là năm I cuả Công Nguyên. Nhưng sau này các sử gia và các học giả Kinh Thánh nghiên cứu lại các thời đại Hoàng Đế Augustô và vua Hêrôđê Cả mới thấy là Chúa Giêsu phải sinh ra sớm hơn; vì thế, Chúa Giêsu bị ghi hụt đi mất 6, 7 tuổi và cũng vì thế mừng sinh nhật cúa Chúa năm 2008 chính ra đã là năm 2014 (hay 2015).

Tóm lại, năm Chúa Giêsu Kitô Giáng Sinh.
+Cách thời của Abraham: 21 thế kỷ;
+Cách Maisen với công cuộc xuất hành khỏi Ai Cập: 13 thế kỷ;
+Cách thời bà Ruth và các thẩm phán: 11 thế kỷ;
+Cách thời vua David được xức dầu phong vương: một ngàn năm;
+Cách năm đại hội Olympics đầu tiên: 776 năm (Đại Hội thứ 194);
+Khoảng 747 năm sau khi thành lập Thành Rôma.
(Qúy vị có thể xem thêm tài liệu trong các sách chú-giải về Kinh Thánh hoặc đọc phần Dẫn Nhập vào Kinh Thánh Tân Ước trong các bản dịch Kinh Thánh của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn; hoặc của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ; hoặc trong The New American Bible; hoặc trong Bible de Jerusalem).

Chúa Giêsu sinh ra ngày nào?

Đọc tiểu sử của các ‘vĩ nhân’ trên thế giới thời xưa, chúng ta thường không thấy nói đến ngày sinh; chẳng hạn Socrate (khoảng 470-399 BC) hay Platon (khoảng 428-348 BC) v.v... Ngay các cụ người Việt Nam chúng ta bây giờ, nhiều vị cũng không nhớ ‘ngày sinh, tháng đẻ’ của mình; nhiều cụ chỉ nhớ là tuổi‘Mùi’ hay tuổi ‘Thìn’. Ngay cả ngày tháng năm sinh của các cụ trên giấy khai sinh cũng không đúng hẳn... Ngày sinh của Chúa Giêsu cũng không được ghi lại đầy đủ trong các sách Phúc Âm (Tất nhiên Chúa Giêsu cũng không có giấy khai sinh hay sổ bộ khai sinh...)

Nhưng tại sao lại mừng ngày Chúa Giêsu ra đời vào 25 tháng 12 hằng năm?

Thực ra, trong ba thế kỷ đầu (các Kitô hửu chỉ họp nhau để kỷ niệm việc Chúa Giêsu đã chịu đau khổ, đã chịu chết và đã sống lại. Đặc biệt tụ họp vào ngày thứ nhất trong tuần (Ngày Chúa Giêsu sống lại từ cỏi chết, Gioan 20,1...) và gọi ngày này là ‘Chúa Nhật’. Việc cử hành phụng vụ này gọi là ‘Nghi Lễ Bẻ Bánh’ (ý nói đến việc cử hành nghi lễ ‘Thánh Thể’) (Tông Đồ Công Vụ đoạn 2, câu 42...). Trong những cuộc ‘họp mặt’ này, các Kitô hữu cùng gặp gỡ nhau, chia sẽ tình thân hữu và niềm tin, rồi cùng nhau cầu nguyện và dự ‘Lễ Thánh Thể’ (Nghi Thức Bẻ Bánh). Lúc đầu chưa có các ‘Thánh Đường’, nên thường tùy tiện họp mặt tại các tư gia hay nơi nào có thể được, như tại ‘hành lang Salomon’ (TĐCV 5:12...). Tuy nhiên việc ‘Cử Hành’ này cũng không được đều đặn, vì ngay từ lúc đầu các Kitô đã bị bách hại và xua đuổi. Đọc sách ‘Tông Đồ Công Vụ’ (The Acts of Apostles), ta thấy rõ điều này: trong khi các tông đồ và các tín hữu ra sức rao giảng ‘Tin Mừng tình thương’ của Chúa cho mọi người ở mọi nơi họ sống, thì họ cũng luôn bị những thế lực thù nghịch chống đối và bách hại; vì ‘bóng tối’ luôn thù nghịch ‘Ánh Sáng’. Những người sống theo ‘thế gian’ thì thù ghét những ai sống ngược lại với lối sống của họ! Tất nhiên ‘Thầy’của mình là Chúa Giêsu Kitô đã bị thù ghét, bị bắt, bị hành hạ và bị giết nhục nhã trên thánh giá, thì các môn đệ của ‘ Thầy’qua các thế hệ đều cũng bị bách hại cách này hay cách khác. Trong ba thế kỷ đầu thì các cuộc bách hại rất dữ dội ngay tại nơi đất nước quê hương của Chúa Giêsu và các tông đồ, và sau đó là ở khắp các nơi trong toàn Đế Quốc Rôma. Hơn nữa, lúc đó chưa có các tổ chức ‘Bảo Vệ Nhân Quyền’ hay ‘Bảo Vệ Tự Do Tôn Giáo’, nên các nhà cầm quyền tự do đàn áp và tàn sát các tín hửu và các vị lãnh đạo tôn giáo của họ, bất kể ở các chức vụ nào. Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng đầu tiên, Thánh Phaolô và các Thánh Tông Đồ đều tử đạo, trừ Thánh Gioan thì bị lưu đày cho đến chết. Các vị Giáo Hoàng tiếp theo cũng như các thành phần trong Giáo Hội đều bị xua đuổi, bị bắt, bị tù đày và bị giết thảm khốc (nhất là dưới thời Hoàng Đế Nêron).

Trong hoàn cảnh cực khổ đó, các vị lãnh đạo và các tín hữu tiếp tục giữ vững đức tin và tiếp tục rao giảng Tin Mừng và họp mặt cầu nguyện và cử hành nghi lễ ‘Thánh Thể’ bất cứ lúc nào và nơi nào có thể được để an ủi và nâng đỡ lẩn nhau trong cuộc sống đức tin đầy khó khăn như thế. (Xin xem thêm về chuyện các ‘Hang Toại Đạo’ ‘Catacombs‘ tại Rôma ngày xưa). Cho mãi đến năm 313, khi một Hoàng Đế Rôma có tên là Constantinô Đại Đế (Constantine ‘The Great’, 280-337, theo đạo Công Giáo , Mẹ là Thánh Helene) ký hiệp ước Milan (Edit de Milan) để bảo đảm quyền tự do tôn giáo, lúc đó Giáo Hội mới được hưởng một thời kỳ an-bình (Paix de L’Eglise) và lúc đó, các Kitô hửu mới được hưởng chút tự do để thờ phượng Chúa và các Thánh Đường được xây cất, các buổi ‘họp mặt’ cầu nguyện, học hỏi Thánh Kinh và cử hành ‘Lễ Thánh Thể mới được thường xuyên hơn. Tuy nhiên đến năm 336 mới thấy việc cử hành ngày Chúa Giáng Sinh (Christmas Day) xuất hiện trong lịch phụng vụ của Giáo Hội. Việc mừng Lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu chắc là trùng hợp với việc các Kitô hữu, khi đã được hưởng thời gian an bình để sống đạo, liền nghĩ đến việc hướng về quê hương của Chúa, nhất là nơi Chúa Giáng Sinh là thành Bêlem và hành hương kính viếng và chung tay xây cất Đền Thờ Chúa giáng sinh tại Bêlem vào năm 330.

Vì ngày Chúa Giáng Sinh không được ghi rõ ràng trong các văn kiện lịch sử cũng như trong các sách Phúc Âm, nên Giáo Hội đã chọn một ngày thích hợp là 25 tháng 12 là ngày gần với ngày đông chí (winter solstice), ngày ngắn nhất đã qua và ánh sáng lại trở lại... và vì thế các dân tộc Trung Đông thời cổ hay mừng ‘ngày ánh sáng’ vào 25 tháng 12; rồi Giáo Hội muốn thánh hóa ngày này bằng việc kính nhớ ngày Thiên Chúa Giáng Sinh ‘Trời Đất Giao Hoà’. Như vậy ngày 25 tháng 12 không phải là ngày có tính cách lịch sử mà chỉ là ngày kỷ niệm mừng Chúa xuống trần để giao hoà với nhân loại và loan báo tin mừng cứu độ (xin xem thêm ‘Preaching the Lectionary’ của R. H. Fuller). Đây chỉ là một việc làm theo ‘thuận tiện’, tạm ví như nhiều cụ khi ở Việt Nam thì không có thói quen mừng ngày sinh nhật (birthday) (tất cả chỉ mừng vào dịp Tết); nhưng đến Hoa Kỳ, giới trẻ thích sống theo văn hóa địa phương, đã có thói quen mừng‘sinh nhật’, và cũng muốn các bậc cha mẹ có một ngày để mừng cho con cháu vui vẻ trong gia đình. Các cụ nào không nhớ được ngày sinh nhật chính thức của mình, đã chọn một ngày nào đó; chẳng hạn có cụ chỉ nghe cha mẹ nói là mình sinh vào dịp tháng tám mưa bão, liền chọn một ngày trong tháng 8. Có cụ chỉ nhớ cha mẹ nói là sinh vào giữa mùa gặt (ở ngoài bắc thì vào tháng 5) nên chọn một ngày vào tháng 5. Kể cả việc ngày giỗ của một số vị trong gia đình cũng không thể đúng ngày; nhiều gia đình có chồng con mất tích trong cuộc chiến, khi biết chắc là đã chết, liền chọn một ngày để kính nhớ (thường hay chọn vào ngày nghe tin mất tích...) Ông cụ trong gia đình chúng tôi, ngày xưa hoạt động cho Quốc Dân Đảng, khi Việt Minh nổi lên, họ mời đi họp để ‘cộng tác làm việc cứu quốc’ và từ ngày đó là biệt tích luôn. Sau đó gia đình biết chắc đã chết, nhưng không biết chết làm sao và vào ngày nào, nên đã chọn ngày ‘rời gia đình’ để con cháu ‘khói hương’ kính nhớ.
Vì ngày mừng lễ Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm không xác thực theo lịch sử, nên thường có những ý kiến chống đối; đặc biệt vào thế kỷ 17 tại Anh Quốc, những người ‘Thanh Giáo’ (Puritans) đã nổ lực để yêu cầu xóa bỏ việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu; nhưng mọi nổ lực đều thất bại, và việc mừng Chúa Giáng Sinh vào 25 tháng 12 hàng năm vẫn tiếp tục ở Anh Quốc cũng như khắp nơi trên thế giới. Hơn nửa, việc mừng lễ Giáng Sinh của Chúa không phải chỉ đơn thuần mừng ngày ‘Sinh Nhật’ của Chúa, mà còn có ý nghiã thiêng liêng chuẩn bị tâm hồn đón Chúa vào tâm hồn tín hữu, và ngày Chúa trở lại trần gian lần thứ hai trong ngày thẩm phán. Vì thế có gần một tháng để tín hữu chuẩn bị lễ Giáng Sinh, gọi là ‘Mùa Vọng’ (ngày xưa gọi là ‘Mùa Áp’) (Advent). Mùa Vọng là mùa Giáng Sinh khởi đầu niên lịch phụng vụ của Giáo Hội, tiếp theo là ‘Mùa Thường Niên I’, rồi đến ‘Mùa Chay’ (Lent) để chuẩn bị Đại Lễ Phục Sinh và Mùa Phục Sinh, rồi đến ‘Mùa Thường Niên II’ kéo dài đến ‘Mùa Vọng’ cho một niên lịch phụng vụ mới.

Nơi đây chúng tôi cũng xin nói thêm là trước lễ Giáng Sinh 9 tháng, Giáo Hội có một ngày mừng lễ đặc biệt gọi là ‘Lễ Truyền Tin’ (Annunciation) để kỷ niệm giờ phút sứ thần Thiên Chúa báo tin cho Đức Maria biết Thiên Chúa đã chọn Ngài làm người được diểm phúc cưu mang và sinh Đấng Cứu Thế... Và Đức Maria đã ‘Xin Vâng’ (Luca 1, 26...). Đây chính là giờ phút rất quan trọng trong lịch sử ơn cứu độ, giờ phút ‘Trời Đất Giao Hoà’, ‘Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Gioan 1,14). Chính vì thế mà trong toàn Giáo Hội có thói quen nguyện ‘Kinh Truyền Tin’ vào ba lúc quan trọng trong một ngày: sáng, trưa, chiều. Khi nghe tiếng ‘Chuông Nguyện’ mọi tín hữu đều ngưng các công việc để nguyện ‘Kinh Truyền Tin’ mà nhớ đến giây phút quan trọng này: ‘Và Ngôi Lời đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria.’ Rất nhiều nhạc sĩ, thi sĩ Công Giáo các nơi đã sáng tác các bài thánh ca hoặc các bài thơ diễn tả giây phút ‘huyền nhiệm’nầy; đan cử như bài thơ của thi sĩ Hàn Mạc Tử, bài ‘Theo Tiếng Thiên Thần xưa Kính Chào’ của Hoàng Diệp, ‘L’Annonce faite à Marie’’ của Paul Claudel (văn hào Pháp).

Ngày nay lễ Giáng Sinh (có nơi gọi là lễ ‘No-en’ ‘Noel’) càng ngày càng lan rộng đi khắp nơi, đến cả các dân tộc ở các vùng hẻo lánh, và ngay cả các nước còn đang dưới chế độ ‘Cộng Sản’ như Cuba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn cũng không thể ngăn cản dân chúng rầm rộ mừng lễ No-en. Đáng tiếc là ngày nay người ta đã ‘thương mại hóa’ dịp lễ này mà làm giảm đi phần nào ý nghĩa thiêng cao cả. Tuy nhiên điều ‘lạm dụng’ đó cũng không thể làm giảm đi tinh thần mừng lễ đích thực trong lòng những người thành tâm thiện chí (Abusus non Tullit Usum) và họ được hưởng ‘ơn phúc lộc’ an bình trong tâm hồn và trong gia đình họ, như lời các Thiên Thần hát mừng trong đêm Chúa Giáng Sinh:

‘Vinh Danh Thiên Chúa trên Trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm!’